Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn phát biểu tại phiên họp sáng 21/4
Nội dung thảo luận tập trung vào việc đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030; Công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
Thực hiện phân công đối với thành viên Chính phủ, trên tinh thần tiếp thu các ý kiến thảo luận tại Tổ và ý kiến phát biểu tại Hội trường đối với các Báo cáo của Chính phủ và dự thảo Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã phát biểu, làm rõ thêm một số vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, đa số các đại biểu đều đồng tình và đánh giá cao các nội dung mà Chính phủ đã báo cáo Quốc hội. Đồng thời, các đại biểu cũng phân tích sâu hơn bối cảnh kinh tế thế giới thời gian gần đây, đặc biệt là các yếu tố tác động đến tăng trưởng của Việt Nam như: biến động giá dầu, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng, cũng như các rủi ro từ việc phía Mỹ điều tra chống bán phá giá theo Điều 301 của Luật Thương mại năm 1974 đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.
Bên cạnh đó, các đại biểu đã chỉ ra những tồn tại nội tại của nền kinh tế, như mô hình tăng trưởng chưa thực sự bền vững, hiệu quả đầu tư còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Nhiều ý kiến đã đề xuất các mục tiêu và giải pháp quan trọng nhằm giúp Chính phủ và các cấp chính quyền thực hiện thành công các mục tiêu tăng trưởng, vừa đảm bảo tốc độ tăng trưởng cao, vừa nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn bày tỏ cảm ơn các ý kiến đầy tâm huyết và trách nhiệm của các đại biểu, đồng thời cho biết Bộ Tài chính sẽ tiếp thu đầy đủ để hoàn thiện báo cáo trình Quốc hội và Chính phủ.
Về mục tiêu tăng trưởng, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, theo các báo cáo quốc tế, trong khoảng 60 năm qua, chỉ có 13 quốc gia và vùng lãnh thổ duy trì được tốc độ tăng trưởng hai con số trong thời gian dài để chuyển từ nước đang phát triển lên nước phát triển. Trong khi đó, Việt Nam trong hơn 45 năm qua mới chỉ có 2 năm đạt mức tăng trưởng trên 9%, và chưa từng đạt mức tăng trưởng hai con số. Do đó, việc đặt mục tiêu tăng trưởng cao là cần thiết, đã được thể hiện rõ trong các Nghị quyết của Trung ương và Quốc hội. Vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện quyết liệt, hiệu quả và đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị.
Hiện nay, chúng ta đã đạt được một số kết quả tích cực, tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 7–8%; xuất khẩu tăng trên 19%, giải ngân đầu tư công tăng khoảng 6,12%; số doanh nghiệp thành lập mới tăng khoảng 31,5%. tuy nhiên, từ quý II trở đi, nền kinh tế sẽ chịu tác động rõ hơn từ các yếu tố bên ngoài, đặc biệt là biến động giá dầu.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng trên 10%, theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, trong các quý còn lại cần đạt mức tăng trưởng từ 10–11%, Chính phủ sẽ tập trung vào các nhóm giải pháp sau: Rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng, phân công cụ thể cho từng bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp; Phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa và tiền tệ, vừa đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hỗ trợ tăng trưởng; Tập trung hoàn thiện chính sách thuế; Hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ; Đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đảm bảo hoàn thành kế hoạch năm 2026; Xử lý các dự án tồn đọng, khơi thông nguồn lực cho nền kinh tế.
Quang cảnh phiên họp
Về đầu tư công, trong giai đoạn 2026–2030, chúng ta cần huy động nguồn lực đáp ứng nhu cầu phát triển, với mục tiêu nâng tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên khoảng 33% GDP. So với giai đoạn trước, tổng nhu cầu vốn dự kiến tăng khoảng 22%. “Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi không chỉ là quy mô vốn mà là hiệu quả sử dụng vốn. Tôi đồng tình với ý kiến của các đại biểu về yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư”, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nói.
Theo Bộ trưởng, Hiện nay, hệ số ICOR (hiệu quả sử dụng vốn) của Việt Nam ở mức khoảng 4,6. Nếu không cải thiện chỉ số này, để đạt tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư toàn xã hội có thể phải lên tới 70% GDP – đây là mức không khả thi. Do đó, chúng ta đặt mục tiêu giảm ICOR xuống khoảng 4,0–4,4, dù vẫn cao hơn so với một số quốc gia trong giai đoạn tăng tốc (Trung Quốc: khoảng 2,7; Nhật Bản: khoảng 3,2; Hàn Quốc: khoảng 3–3,5). Điều này đòi hỏi các giải pháp đồng bộ từ chuẩn bị đầu tư, lựa chọn danh mục dự án; phân bổ vốn tập trung, tránh dàn trải; tăng cường giám sát, kiểm tra và đánh giá hiệu quả.
Về thị trường vốn, để đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, Bộ trưởng cho rằng cần phát triển mạnh thị trường vốn, đặc biệt là thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu, nhất là trái phiếu Chính phủ
Để thị trường vốn phát triển bền vững, cần tiếp tục cải cách toàn diện: hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng thị trường, mở rộng và nâng cao chất lượng các chủ thể tham gia (nhà phát hành, nhà đầu tư, các tổ chức trung gian). Đặc biệt, cần phát triển các định chế đầu tư chuyên nghiệp để hỗ trợ nhà đầu tư cá nhân, tăng tính minh bạch và an toàn, giám sát dòng tiền hiệu quả.