Từ tháng 3/2026, nhiều chính sách mới có hiệu lực, nổi bật là các quy định liên quan đến bất động sản; quy định về bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo; văn phòng đại diện tổ chức nước ngoài tại Việt Nam…
Quản lý bất động sản bằng mã định danh điện tử
Nghị định số 357/2025/NĐ-CP về xây dựng và quản lý hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản đã quy định gắn mã định danh cho sản phẩm bất động sản.

Từ 1/3/2026, bất động sản sẽ được quản lý bằng mã định danh điện tử. Ảnh minh họa
Cụ thể, Nghị định số 357/2025/NĐ-CP ban hành ngày 31/12/2025 về xây dựng và quản lý hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản có mục II quy định các nội dung về mã định danh điện tử, tài khoản định danh điện tử. Trong đó, từ Điều 8 đến Điều 12 quy định các mã định danh điện tử, bao gồm: mã định danh điện tử sản phẩm bất động sản là nhà ở; mã định danh điện tử sản phẩm bất động sản là phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng; mã định danh điện tử của đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư; mã định danh điện tử của chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản; mã định danh điện tử của cá nhân được thụ hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở.
Mã định danh điện tử sản phẩm bất động sản là nhà ở được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo nghị định này gồm các nhóm trường thông tin: mã định danh thửa đất; mã số thông tin dự án, công trình xây dựng; mã định danh địa điểm (nếu có); dãy ký tự tự nhiên.
Mã định danh điện tử sản phẩm bất động sản là nhà ở được tạo lập tự động trên hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản và Sở Xây dựng thực hiện gắn thông tin mã định danh điện tử sản phẩm bất động sản là nhà ở với các dự án phát triển nhà ở trên địa bàn cùng thời điểm ban hành văn bản thông báo về nhà ở đủ điều kiện bán nhà ở hình thành trong tương lai.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2026
Sửa đổi quy định về bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo
Chính phủ ban hành Nghị định số 51/2026/NĐ-CP ngày 2/2/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 của Chính phủ quy định về bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo.
Nghị định số 51/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 7a về xóa hoặc miễn chi phí bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo (sau đây gọi chung là chi phí đào tạo) đối với người học chương trình giáo dục cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sỹ được hưởng học bổng và chi phí đào tạo từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc do nước ngoài tài trợ theo Hiệp định ký kết với nhà nước Việt Nam mà không chấp hành sự điều động làm việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền sau khi tốt nghiệp.
Nghị định quy định trường hợp người học được xóa hoặc miễn chi phí bồi hoàn: Xóa chi phí bồi hoàn trong trường hợp người học đã chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết theo quy định của pháp luật; miễn chi phí bồi hoàn một trong các trường hợp sau: Người học được cơ sở y tế có thẩm quyền xác nhận không đủ sức khỏe để làm việc; người học chấp hành nghĩa vụ làm việc chưa đủ thời gian theo quy định nhưng sau đó được cơ quan có thẩm quyền quyết định điều động, luân chuyển, biệt phái hoặc chuyển công tác đến vị trí khác; người học do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng nên không thể chấp hành sự điều động làm việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc bồi hoàn xem xét, quyết định việc miễn chi phí bồi hoàn đối với trường hợp này.
Cơ quan nhà nước hoặc thủ trưởng cơ quan quản lý người lao động có thẩm quyền quyết định việc bồi hoàn theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 143/2013/NĐ-CP có thẩm quyền xem xét, quyết định việc xóa hoặc miễn chi phí bồi hoàn (cơ quan có thẩm quyền).
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 26/3/2026.
Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lưu trữ
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 31/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lưu trữ có hiệu lực từ ngày 8/3/2026.
Nghị định này gồm 4 chương, 22 điều quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lưu trữ, bao gồm hành vi vi phạm hành chính về thực hiện nghiệp vụ lưu trữ và về hoạt động dịch vụ lưu trữ; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể của các chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực lưu trữ.
Đối với vi phạm quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lưu trữ, nghị định quy định phạt tiền từ 20 đến 30 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm gồm truy cập, sao chép, chia sẻ trái phép tài liệu lưu trữ, cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; cung cấp, chuyển giao, hủy tài liệu lưu trữ trái phép hoặc mua bán, chiếm đoạt tài liệu lưu trữ mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; làm hỏng tài liệu lưu trữ đến mức không thể khôi phục được; làm mất tài liệu lưu trữ; sử dụng tài liệu lưu trữ vào mục đích bịa đặt, bôi nhọ, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của cá nhân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự…

(Nguồn: Báo Chính phủ)
Vi phạm hành chính trong hoạt động đường bộ bị phạt tới 150 triệu đồng
Chính phủ ban hành Nghị định số 336/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đường bộ với mức phạt tối đa là 150 triệu đồng.
Nghị định số 336/2025/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh; thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong hoạt động đường bộ thuộc lĩnh vực giao thông đường bộ.
Theo nghị định, mức phạt tiền tối đa trong hoạt động đường bộ thuộc lĩnh vực giao thông đường bộ đối với cá nhân là 75 triệu đồng và đối với tổ chức là 150 triệu đồng.
Cụ thể, đối với các hành vi vi phạm quy định về sử dụng, khai thác trong phạm vi đất dành cho kết cấu hạ tầng đường bộ bị phạt từ 500.000 đồng đến 20 triệu đồng.
Hành vi vi phạm quy định về quản lý, vận hành, khai thác, bảo trì công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung với đường bộ bị phạt từ 6 triệu đồng đến 15 triệu đồng.
Xử phạt từ 1 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với các hành vi vi phạm quy định về thi công trong phạm vi bảo vệ kết cấu hạ tầng đường bộ.
Xử phạt từ 100.000 đồng đến 5 triệu đồng đối với hành vi vi phạm quy định về quản lý, khai thác, bảo trì, bảo vệ kết cấu hạ tầng đường bộ.
Nghị định số 336/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/3/2026.
Quy định mới về văn phòng đại diện tổ chức nước ngoài tại Việt Nam
Chính phủ ban hành Nghị định số 62/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2005/NĐ-CP ngày 19/1/2005 của Chính phủ về việc lập và hoạt động của Văn phòng đại diện của các tổ chức hợp tác, nghiên cứu của nước ngoài tại Việt Nam (Văn phòng đại diện).
Nghị định số 62/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 7 Nghị định số 06/2005/NĐ-CP theo hướng bổ sung hình thức nộp hồ sơ trực tuyến xin lập Văn phòng đại diện tại Việt Nam và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục cấp phép lập Văn phòng đại diện.
Cụ thể, tổ chức nước ngoài đề nghị lập Văn phòng đại diện nộp 1 bộ hồ sơ trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia cho Bộ Ngoại giao. Trong vòng 1 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ và yêu cầu tổ chức sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện trong trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải có sổ theo dõi và trao giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả khi nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ.
Trong thời hạn không quá 14 ngày làm việc (quy định trước là 30 ngày) kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Ngoại giao xem xét cấp hoặc từ chối cấp giấy phép lập Văn phòng đại diện cho tổ chức nước ngoài (sau đây gọi là giấy phép). Trong trường hợp từ chối cấp giấy phép, Bộ Ngoại giao thông báo bằng văn bản cho tổ chức nước ngoài và nêu rõ lý do.
Chi tiết nội dung giấy phép lập Văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài tại Việt Nam thực hiện theo Mẫu số 03 quy định tại phụ lục ban hành kèm theo nghị định này.
Bên cạnh đó, Nghị định số 62/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 1, 2 Điều 8 Nghị định số 06/2005/NĐ-CP về trình tự cấp Giấy phép.
Nghị định số 62/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 9 Nghị định số 06/2005/NĐ-CP về thời hạn Giấy phép lập Văn phòng đại diện.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ 1/3/2026.