Báo cáo tình hình giá cả thị trường tháng 9 năm 2018
15/10/2018 08:55

I. TÌNH HÌNH CHUNG:

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2018 tăng 0,28% so tháng trước, tăng 3,58% so cùng tháng năm trước và tăng 2,64% so với tháng 12 năm trước.

Theo số liệu của Cục Thống kê, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 07 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống; May mặc, mũ nón, giày dép; Giao thông; Thiết bị và đồ dùng gia đình; Giáo dục; Văn hóa, giải trí và du lịch; Hàng hóa và dịch vụ khác. Có 02 nhóm hàng hóa có chỉ số giảm: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng; Văn hóa, giải trí và du lịch. Có 02 nhóm: Thuốc và dịch vụ y tế; Đồ uống và thuốc lá ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước.

  II. DIỄN BIẾN MỘT SỐ NHÓM  HÀNG CHÍNH:

  1. Nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống:

Chỉ số nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,93% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 5,38%, tăng 4,24% so với tháng 12 năm trước. Trong đó:

Nhóm lương thực giảm 0,18% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 5,07%, so tháng 12 năm trước tăng 2,29%. Thời điểm trong tháng rơi vào vụ thu hoạch lúa Hè Thu, giá thóc giảm kéo theo giá gạo giảm theo. Trong khi đó, chịu ảnh hưởng từ tổng đàn lợn chăn nuôi ở mức cao tác động vào giá khoai lang tăng so với tháng trước.

Thực phẩm tăng 1,49% so tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 5,68%, so với tháng 12 năm trước tăng 5,92%.

So với tháng trước, giá thịt lợn tiếp tục tăng. Giá lợn hơi trên địa bàn tỉnh vẫn đang ở mức cao, có thời điểm tăng giá từ 1.000 – 2.000 đồng/kg khiến giá thịt lợn tiếp tục tăng. Cụ thể giá: Thịt lợn mông sấn ở mức 105.000-110.000 đ/kg, thịt nạc thăn đầu tháng ở mức 100.000 đ/kg, tăng lên 110.000 đồng/kg vào giữa tháng; Sườn lợn thăn tăng từ 95.000 đ/kg lên mức 105.000 đ/kg. Thịt bò cũng tăng thêm 5.000 – 10.000 đồng/kg, thịt bò thăn đang ở mức 210.000 – 215.000 đồng/kg, thịt bò bắp ở mức 220.000 đồng/kg.

Trong tháng rơi vào dịp Tết Trung thu và kỳ nghỉ lễ 02/9 đầu tháng, nhu cầu tiêu dùng lương thực, thực phẩm, bánh kẹo, hoa quả tăng hơn. Nhìn chung hàng hoá đáp ứng đủ nhu cầu của người dân, đảm bảo mẫu mã, chất lượng. Đặc biệt trong tháng mặt hàng bánh trung thu tiêu thụ mạnh, nguồn bánh từ các thương hiệu lớn như Hữu Nghị, Kinh Đô, Bibica và một số xưởng bánh nhỏ lẻ trong tỉnh. Trong tháng không ghi nhận sự cố ngộ độc thực phẩm nào.

Nhóm mặt hàng rau, củ quả tiếp tục tăng 2,21% so tháng trước. Sản lượng rau sản xuất trong tỉnh đang ở mức thấp, nguồn cung ứng rau củ quả hiện tại từ các địa phương khác trong nước, do đó giá có tăng hơn so tháng trước. Chủ yếu một số mặt hàng tăng giá như: cà chua, rau muống, khoai tây, rau gia vị.

Trong khi đó, nhóm hoa quả tươi giảm giá. Mặc dù chỉ có một mặt hàng nhãn tươi giảm giá, nhưng do năm nay nhãn tươi giảm giá mạnh, kéo theo toàn bộ nhóm hoa quả giảm giá theo.

2. Nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD:

Chỉ số nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,48% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,57%, tăng 1,45% so với tháng 12 năm trước

Giá xi măng và thép xây dựng trên địa bàn tỉnh có sự điều chỉnh giảm giá từ cuối tháng. Mức giảm cao nhất ở mặt hàng Xi măng Bỉm sơn, thép tròn phi 6 Thái Nguyên. Trong khi đó, do lượng tiêu dùng giảm, khiến giá hai mặt hàng điện sinh hoạt và nước sinh hoạt giảm.

3. Nhóm Giao thông:

Chỉ số nhóm Giao thông  tăng 0,74% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 8,37%, tăng 6,45% so với tháng 12 năm trước.

Qua hai lần điều chỉnh trong tháng, giá xăng dầu các loại tăng giá cao. Mặc dù Petrolimex điều chỉnh giảm 300 đồng/lít vào thứ 6 hàng tuần, nhưng mức giảm này không ảnh hưởng nhiều đến xu hướng tăng giá chung của nhóm.

4. Nhóm May mặc, mũ nón,  giầy dép:

Chỉ số nhóm May mặc, mũ nón,  giầy dép tăng 0,12% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,54%, tăng 0,04% so với tháng 12 năm trước;

Trong tháng, có hai nhóm mặt hàng may mặc tăng giá gồm bít tất các loại tăng 2,32%, giày dép tăng 1,67%. Nguyên nhân do giá nhiên liệu, vật tư, chi phí vận chuyển trong thời gian dài ở mức cao hơn so năm trước khiến các đại lý bán buôn tăng giá.

5. Nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình:

Chỉ số nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,20%, tăng 0,18% so với tháng 12 năm trước. Sang tháng 8 trở đi, nhu cầu tiêu dùng các loại mặt hàng điện lạnh như máy lạnh, tủ lạnh, điều hoà, quạt không còn cao như những tháng trước, giá của một số mặt hàng trong những nhóm này qua đó giảm theo. Tuy nhiên giá của các loại đồ dùng gia đình khác lại tăng, bao gồm đồ điện, đồ gia dụng.

6. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác:

Chỉ số nhóm Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,33% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 4,77%, tăng 4,05% so với tháng 12 năm trước. Bước sang sáng là thời điểm nhu cầu làm đẹp, uố sấy tóc bắt đầu tăng trở lại. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng biến động giá xăng dầu tăng nhanh trong những tháng gần đây khiến mức giá dịch vụ xe hoa tăng theo.

  7. Chỉ số giá vàng và giá đô la Mỹ:

Xem chi tiết tại văn bản đính kèm ...

Đính kèm